Nâng cao chất lượng giáo dục

 
 

                        Suy nghĩ vỀ các biỆn pháp nâng cao chẤt lưỢng giáo dỤC

                                    hỌc sinh trên đỊa bàn tỈnh An Giang.

           

            Nâng cao chất lượng giáo dục, một yêu cầu vừa mang tính chủ quan của bản thân ngành Giáo dục, lại vừa có tính khách quan về mặt xã hội. Mong muốn của ngành Giáo dục là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực vừa hồng vừa chuyên cho xã hội.

            Mặt khác, xã hội luôn luôn phát triển, không chỉ tạo điều kiện, là động lực cho giáo dục phát triển mà còn đặt ra những cho ngành Giáo dục những yêu cầu, những tiêu chí đào tạo nhân lực ngày càng cao hơn.

            Trên tinh thần đó, nhiều năm qua, ngành Giáo dục tỉnh An Giang đã tập trung nhiều công sức, phát động trong toàn ngành thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, trước hết là nâng cao chất lượng dạy học.

            Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, đã được bổ sung đủ về số lượng, chuẩn hóa về đào tạo, không chỉ về chuyên môn, nghiệp vụ mà cả về lý luận chính trị. Về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhiều trường học thuộc các cấp, bậc học được xây dựng ngày càng nhiều hơn ; thiết bị giáo dục, từng năm được trang bị, bổ sung dần, kể cả những thiết bị đắt tiền, hiện đại ; về thực hiện kế hoạch giáo dục, nâng quy mô trường lớp lên gấp đôi sau mười lăm năm, đáp ứng yêu cầu học tập của số lượng học sinh tăng lên gấp bốn lần cũng trong cùng thời gian đó ; về quản lý giáo dục, đội ngũ làm công tác nầy đã lớn mạnh nhiều mặt, đảm đương được nhiều trọng trách với tư cách là đầu tàu của các cơ sở giáo dục.

            Với sự tập trung đó, có thể nói, ngành Giáo dục tỉnh An Giang đã tính cực đóng góp cho xã hội nhiều thành quả đáng kể. Nguồn nhân lực mà ngành cung cấp đã có mặt đều khắp ở mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, trong đó lực lượng được đào tạo chính quy, từng bước chiếm tỉ lệ cao ; đội ngũ làm việc trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị gần như đạt chuẩn đào tạo quy định, một bộ phận có trình độ trên chuẩn. Công tác phổ cập giáo dục, dù còn nhiều việc phải bàn, nhưng về cơ bản, đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở.

            Tuy vậy, trước yêu cầu cao của xã hội, nhất là xã hội trong thời kỳ hội nhập, ý muốn nâng cao chất lượng dạy học của ngành Giáo dục An Giang đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng lớn.

            Trước hết là việc phát triển công tác giáo dục ở các địa bàn có người dân tộc.  Dù đã có nhiều cố gắng như mở được hai trường nội trú cho người dân tộc ở hai huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và dự kiến mở thêm một trường nữa ở thị xã Châu Đốc ; cố gắng đưa trường học đến gần để cho con em người dân tộc đi học thuận tiện với hàng loạt chính sách thụ hưởng khác để khuyến học. Nhưng, có thể nói, việc tổ chức giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trong tỉnh cũng còn nhiều bất cập. Đã là trường dân tộc nội trú mà không được nửa số học sinh ở nội trú (dù 100% học sinh được nhận học bỗng) ; học sinh chưa có thói quen mặc đồng phục (chỉ mặc đồng phục khi vào trường) ; trường nội trú nhưng lại có căn-tin, ăn uống xì xọp ; giáo viên để xe trong nhà xe của trường vẫn bị mất ; đặc biệt, trong trường nội trú với đối tượng học sinh được chọn lựa kỹ càng mà lại có học sinh bỏ học, có học sinh học yếu ! Còn việc giảng dạy học sinh dân tộc ở các lớp đại trà như thế nào ? Cách đây không lâu, Đoàn thanh tra phối hợp giữa Ủy ban Dân số và Gia đình Việt Nam và Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo đến kiểm tra việc thực hiện Quyền trẻ em trong trường học ở An Giang, đã đến tổ chức khảo sát học sinh lớp 4 ở một trường có nhiều học sinh người dân tộc (Tiểu học An Tức), phải bỏ dở việc khảo sát vì học sinh không đọc và trả lời được các câu hỏi dành cho học sinh tiểu học !

            Đối với bậc học Mầm non, năm học 2006-2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cấp bằng khen cho ngành Giáo dục tỉnh An Giang về việc thực hiện tiêu chí thi đua của bậc học này . Trong thực tế, hàng năm, An Giang đã huy động trẻ 5 tuổi vào lớp mẫu giáo rất cao (trên 90%) ; có trường mẫu giáo đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia (Trường Mầm non xã Mỹ Luông) ; trường lớp mẫu giáo phát triển nhanh trên địa bàn tỉnh ; đặc biệt, nhiều cơ sở giáo dục mầm non tư thục đã được thành lập, hoạt động có hiệu quả, ngày càng tiếp cận với hoạt động của hệ mầm non công lập. Tuy vậy, các lớp mẫu giáo phải mượn phòng học của các trường tiểu học hoặc phòng học tạm bợ còn rất nhiều ; còn thiếu thốn đồ dùng dạy học, đồ chơi thiết yếu, nhất là đồ chơi ngoài trời. Có những lớp mẫu giáo bán trú, tổ chức việc ăn, nghỉ cho các cháu thấp hơn nhiều so với yêu cầu cơ bản. Nhiều cơ sở tư thục mầm non không đảm bảo CSVC tối thiểu theo quy định ; có cơ sở chưa được cấp phép vẫn ngang nhiên hoạt động ! Không ít trường mầm non, cán bộ quản lý, giáo viên và kể cả nhân viên còn yếu kém về chuyên môn lẫn nghiệp vụ phụ trách. Tình trạng trên cho thấy kế hoạch phát triển và nâng cao chất lượng nuôi dạy của bậc mầm non ở tỉnh nhà là một nhiệm vụ đầy thử thách.

            Đối với giáo dục bậc Tiểu học, bậc học đang nhận nhiều ưu tiên về đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục với phương châm : tập trung cho Tiểu học, trước hết là tập trung cho lớp một, vậy mà, riêng việc thực hiện chương trình (có chỉ đạo giảm tải) và sách giáo khoa là nhiệm vụ khó khăn thường xuyên của các nhà giáo, nhất là các nhà giáo dạy ở các trường thuộc vùng khó khăn. Học sinh lớp một học được 2 buổi trong ngày là ý tưởng tốt, nhưng học 2 buổi của học sinh lớp một mà không tổ chức được bán trú thì kết quả đạt được và chưa được gần như “phá huề” (?) ; chưa kể, có trường thiếu phòng học, phải nén học sinh lại, để có phòng học dành cho học sinh lớp một cả trường được học hai buổi. Nhiều trường tiểu học có từ 1 đến 2 điểm phụ (thậm chí, trường có đến 4 điểm phụ), việc quản lý chuyên môn tất nhiên lỏng lẻo hơn điểm chính, nói gì đến quản lý nề nếp dạy-học, quản lý việc giữ gìn vệ sinh môi trường ! Việc phổ cập tiểu học đúng độ tuổi thực hiện với tiến độ chậm, nghĩa là phải có một bộ phận học sinh tiểu học phải được phổ cập bằng những lớp không chính quy, “kéo rê” tình trạng thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học thiếu vững chắc. Lộ trình xây dựng trường đạt mức chất lượng tối thiểu còn nhiều khó khăn ; giáo viên chuyên dạy thể dục, âm nhạc, mỹ thuật chỉ bố trí được những nơi có điều kiện ; các cơ sở trường học, cán bộ quản lý, giáo viên chưa “thấm” được hết những chỉ đạo, yêu cầu về chuyên môn của ngành (vốn dĩ rất phức tạp) thì khoảng cách giữa yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học của ngành và thực tế đạt được ở cơ sở giáo dục là điều cũng thật dễ thấy.

            Đối với bậc trung học (bao gồm THCS và THPT), việc cải tiến phương pháp giảng dạy đã được phát động trong nhiều năm và cũng đã găt hái những thành quả đáng kể. Tình trạng dạy theo kiểu đọc chép một chiều đã giảm hẳn. Như đã nói, thiết bị dạy học cũng đã được trang bị nhiều, nhất là cung cấp theo lộ trình thay sách giáo khoa mới. Số học sinh ngồi nhầm lớp ít hơn vì ngành Giáo dục thực hiện cuộc vận động “Hai không”. Cơ sở trường lớp cũng đã được bổ sung mạnh hơn. Các biện pháp bồi dưỡng, phụ đạo học sinh được thực hiện trong nhiều năm liên tiếp, giúp cho mặt bằng học lực của học sinh trên toàn tỉnh đã có những bước cải thiện đáng kể.

            Tuy nhiên, chỉ đạo cải tiến phương pháp dạy học hiện nay của Sở (trong các văn bản hướng dẫn đã phát hành) vẫn là những định hương khá chung chung : dạy học phải giúp cho học sinh suy nghĩ nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn ; không dạy học theo kiểu đọc chép một chiều ; phải tích cực ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học ; dạy học lấy học sinh làm trung tâm, thầy đóng vai trò là người hướng dẫn ; phải giúp học sinh tự học ; … Còn đối với cấp THPT, dù có chỉ đạo như thế, nhưng nhiều biện pháp thực hiện không thuận chiều. Giáo viên phải chạy theo chương trình, thời khóa biểu để đáp ứng các đề kiểm tra học kỳ do “Sở ra”, giáo viên bị tước mất trên tay công cụ kiểm tra của người đang trực tiếp giảng dạy cho học sinh của mình ; vẫn biết, dạy học phải theo nguyên tắc tinh, gọn và phù hợp đối tượng học sinh, nhưng không để cho giáo viên trực tiếp dạy đánh giá học sinh của mình mà lại lấy cùng một thước đo từ đề kiểm tra nặng về “bao cấp” từ Sở, nói là để tác động việc dạy học, nhưng cứ mãi kéo dài thì không thỏa đáng, nếu không nói là bất hợp lý !

            Tình trạng thiếu thốn CSVC kéo dài, chưa kể, những trường mới lập (nhưng chưa có trường) phải tạm mượn phòng học của một trường khác, thiếu phòng phục vụ, thiếu sân chơi bãi tập, thiếu chỗ để triển khai thiết bị dạy học ; những hoạt động ngoài lớp được triển khai rầm rộ nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở đầu công việc, không sâu sắc, gây nặng nề, tốn kém, thiếu những buổi dã ngoại, những buổi giao lưu, tìm hiểu thực tiễn cuộc sống, những địa chỉ lịch sử, văn hóa sinh động ; thiếu những buổi rèn tập về kỹ năng sinh hoạt tập thể, hòa nhập cộng đồng, … khiến cho việc giáo dục học sinh, nói chung, mang đậm chất lý thuyết, kinh viện, thiếu dấu ấn cần thiết của “màu xanh cuộc sống” !  

            Đối với học sinh cuối cấp THPT, tỉ lệ tốt nghiệp hàng năm là một tiêu chí quan trọng để xem xét hiệu quả đào tạo của tập thể sư phạm nhà trường. Nhưng không vì thế mà dồn hết tâm lực cho việc chạy theo chương trình, tổ chức ôn tập với nhiều hình thức, cốt để học sinh được hết cấp thì chưa đủ. Lý ra, việc dạy học phải diễn ra bình thường theo chương trình kế hoạch công tác của mỗi đơn vị ; giáo viên soạn giảng tốt, học sinh chăm ngoan học tập ; những hoạt động giáo dục ngoài lớp, hô ứng với các hoạt động giáo dục trong lớp, đảm bảo việc hoàn thiện dần quá trình giáo dục toàn diện cho học sinh theo yêu cầu của mục tiêu đào tạo trong nhà trường phổ thông. Tỉ lệ tốt nghiệp của học sinh, phải chăng, chỉ là một kết quả tất yếu của quá trình giáo dục thường xuyên của nhà trường.

            Nói ra những điều suy nghĩ trên, không phải để làm nhẹ đi những nỗ lực của ngành về sự quan tâm cải thiện chất lượng học tập của học sinh. Nhưng phải thẳng thắn nhìn vào thực tế ấy để thấy rằng đoạn đường phấn đấu sẽ còn rất dài, còn phải huy động thêm nhiều tâm huyết và sức lực của đội ngũ các nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục trong toàn ngành, nếu muốn vượt qua những trở lực, chinh phục những đỉnh cao phía trước, nhằm hoàn thành sứ mệnh vinh quang của những “Người kỷ sư tâm hồn”.

 

                                                                                            Nhân ngày 20 tháng 11 năm 2008.

 

                                                                                                             Nguyễn Minh

                                                                                                       (Sở GD-ĐT An Giang) 

 

 
 
 
About these ads
This entry was posted in Chuyện sư phạm. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s